Thực hiện các chủ trương lớn của Đảng và Nhà nước về chuyển đổi số, đặc biệt là Nghị quyết số 52-NQ/TW ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư và Nghị quyết số 57-NQ/TW ngày 22/12/2024 của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, Đại học Thái Nguyên đã xác định chuyển đổi số là một trong những trụ cột chiến lược nhằm nâng cao chất lượng đào tạo, hiện đại hóa công tác quản trị và tăng cường năng lực phục vụ người học.
Trong những năm qua, Đại học Thái Nguyên đã ban hành nhiều nghị quyết, chương trình hành động chuyên đề về chuyển đổi số, bảo đảm sự thống nhất trong chỉ đạo và triển khai từ Đại học đến các trường thành viên, đơn vị trực thuộc. Quan điểm xuyên suốt là lấy người học làm trung tâm, dữ liệu làm nền tảng và công nghệ làm động lực, từng bước hình thành mô hình quản trị đại học hiện đại, thông minh.
Xây dựng nền tảng quản trị và đào tạo số đồng bộ

Sinh viên Khoa Quốc tế, Đại học Thái Nguyên sử dụng ứng dụng S-TNU để tra cứu tài liệu.
Quá trình triển khai chuyển đổi số bước đầu đạt được nhiều kết quả tích cực. Đại học Thái Nguyên đã hoàn thiện và đưa vào vận hành hệ thống quản trị tổng thể với các phân hệ bao phủ hầu hết quy trình cốt lõi như: quản lý đào tạo, khảo thí, tài chính – kế toán, nhân sự, thiết bị – tài sản, điều hành văn bản điện tử… Qua đó, góp phần nâng cao hiệu quả điều hành, minh bạch hóa hoạt động quản trị và rút ngắn thời gian giải quyết thủ tục cho người học, giảng viên và cán bộ quản lý.
Trong lĩnh vực đào tạo, Đại học Thái Nguyên đã chuyển mạnh sang đào tạo số và số hóa học liệu. Đến nay, 100% chương trình đào tạo đã triển khai hệ thống LMS và E-learning thống nhất. Kho học liệu số đạt trên 45.000 đầu mục, tăng gấp đôi so với hai năm trước. Trung bình mỗi học kỳ có trên 28.000 người học thường xuyên sử dụng hệ thống học trực tuyến; khoảng 60–70% giảng viên đã xây dựng học phần số hóa. Nhờ đó, Đại học Thái Nguyên được đánh giá là một trong những đại học vùng có năng lực đào tạo trực tuyến mạnh trong hệ thống giáo dục đại học Việt Nam.
Song song với đó, việc ứng dụng dữ liệu lớn (Big Data) trong quản trị đào tạo được đẩy mạnh. Đại học Thái Nguyên đã thiết lập cơ sở dữ liệu người học tập trung, liên thông giữa các trường thành viên. Nhờ hệ thống dữ liệu này, công tác dự báo tuyển sinh được cải thiện, độ chính xác tăng thêm khoảng 25%. Việc theo dõi tiến độ học tập và cảnh báo sớm nguy cơ rủi ro học tập cho sinh viên được thực hiện tự động. Công tác thống kê, báo cáo phục vụ quản lý nhà nước và kiểm định chất lượng được nâng cao rõ rệt về độ tin cậy và tính kịp thời.
Hiện đại hóa khảo thí và hệ sinh thái số phục vụ người học
Cùng với đổi mới quản trị và đào tạo, Đại học Thái Nguyên chú trọng hiện đại hóa hệ thống khảo thí và bảo đảm chất lượng. Việc triển khai thi trực tuyến có giám sát bằng trí tuệ nhân tạo (AI proctoring) kết hợp ngân hàng câu hỏi chuẩn hóa đã giúp giảm khoảng 30% chi phí tổ chức thi, đồng thời tăng tính minh bạch, khách quan. Thời gian công bố kết quả được rút ngắn từ khoảng 10 ngày xuống còn 3–5 ngày, tạo thuận lợi cho người học và các đơn vị đào tạo.
Hệ sinh thái số phục vụ người học từng bước được hoàn thiện. Nhiều tiện ích được tích hợp trên ứng dụng di động và cổng dịch vụ trực tuyến, như: tra cứu tiến độ học tập, đăng ký học phần, thực hiện dịch vụ công trực tuyến, tra cứu điểm rèn luyện, sử dụng thư viện số. Những tiện ích này góp phần nâng cao trải nghiệm người học, giảm thủ tục hành chính và tăng tính chủ động trong quá trình học tập.
Đầu tư hạ tầng, dữ liệu và trí tuệ nhân tạo
Để có được những kết quả trên, trong những năm gần đây, Đại học Thái Nguyên đã dành hơn 200 tỷ đồng từ ngân sách và nguồn xã hội hóa để đầu tư cho hạ tầng công nghệ thông tin, trung tâm dữ liệu, bảo đảm an toàn thông tin, xây dựng phòng học số và phát triển hệ thống phần mềm dùng chung. Các trường thành viên đã triển khai nhiều phòng thí nghiệm số, hệ thống mô phỏng 3D và mô hình thực hành ảo, phục vụ đào tạo các ngành kỹ thuật, công nghệ, y dược và khoa học tự nhiên.
Đội ngũ nhân lực phục vụ chuyển đổi số từng bước được chuẩn hóa. Đại học Thái Nguyên đẩy mạnh hợp tác với các doanh nghiệp công nghệ, trong đó có Viettel, để phát triển nền tảng số, phòng thí nghiệm thông minh, trung tâm an ninh mạng và triển khai các chương trình đào tạo kỹ năng số cho sinh viên. Các giải pháp công nghệ được thiết kế theo hướng mở, linh hoạt, bảo đảm khả năng mở rộng và liên thông dữ liệu trong toàn hệ thống.

Đại học Thái Nguyên đẩy mạnh hoàn thiện mô hình Đại học Thông minh
Hướng tới mô hình Đại học số vào năm 2030
Với định hướng xây dựng Đại học Thái Nguyên trở thành Đại học số vào năm 2030, trong thời gian tới, nhà trường sẽ tiếp tục hoàn thiện mô hình Đại học thông minh với các đặc trưng: vận hành dựa trên dữ liệu lớn; ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong tư vấn học tập, tuyển sinh và quản trị; hoàn thiện hệ thống hồ sơ số cho 100% người học và cán bộ. Theo lộ trình, đến giai đoạn 2027–2028, phấn đấu 80% học liệu được số hóa; 100% môn học có hệ thống LMS; khoảng 30–40% thời lượng đào tạo được tích hợp hình thức học trực tuyến theo mô hình blended learning. Đại học Thái Nguyên cũng sẽ xây dựng Trung tâm dữ liệu đại học làm nền tảng liên thông dữ liệu toàn hệ thống, phục vụ kiểm định chất lượng, nghiên cứu khoa học và quản trị điều hành thông minh. Cùng với đó, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong quản trị, khảo thí và hỗ trợ người học sẽ được triển khai đồng bộ, gồm: chatbot trợ lý sinh viên; hệ thống dự báo rủi ro học tập; chấm thi bán tự động; giám sát học tập thông minh. Chuyển đổi số gắn với đổi mới mô hình hợp tác, thúc đẩy hình thành các phòng thí nghiệm số dùng chung, các chương trình đào tạo theo đặt hàng của doanh nghiệp và các dự án nghiên cứu, chuyển giao công nghệ với đối tác trong và ngoài nước.
Có thể khẳng định, chuyển đổi số đang trở thành động lực quan trọng để Đại học Thái Nguyên đổi mới mô hình quản trị, nâng cao chất lượng đào tạo và năng lực phục vụ người học. Việc từng bước hiện thực hóa mục tiêu Đại học số không chỉ góp phần nâng cao vị thế của Đại học Thái Nguyên trong hệ thống giáo dục đại học, mà còn đóng góp thiết thực vào tiến trình phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia theo tinh thần các nghị quyết của Đảng.