Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số – động lực xây dựng nông thôn mới bền vững ở Thái Nguyên
Trong quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng ta luôn xác định khoa học và công nghệ (KH&CN) là quốc sách hàng đầu, là động lực then chốt thúc đẩy phát triển nhanh và bền vững đất nước. Trước những biến đổi sâu sắc của tình hình thế giới và khu vực; tác động mạnh mẽ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư; yêu cầu phát triển xanh, phát triển bền vững, nâng cao năng suất lao động và chất lượng tăng trưởng, việc đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu KH&CN vào phát triển kinh tế – xã hội nói chung, lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn nói riêng là xu thế tất yếu, có ý nghĩa chiến lược lâu dài.

Đồng chí Nguyễn Thị Thủy, Phó Giám đốc Sở Khoa học và Công nghệ kiểm tra thực tế mô hình “Quản lý đất và dinh dưỡng thích hợp cho cây na theo hướng sản xuất phục hồi ổn định sức khỏe đất và thích ứng với biến đổi khí hậu” tại xã La Hiên.
Chương trình mục tiêu quốc gia (MTQG) xây dựng nông thôn mới (NTM) đã và đang tạo chuyển biến toàn diện đối với diện mạo nông thôn Việt Nam; đời sống vật chất và tinh thần của người dân được nâng lên rõ rệt; hệ thống kết cấu hạ tầng nông thôn ngày càng đồng bộ; cơ cấu kinh tế và tổ chức sản xuất ở nông thôn chuyển dịch theo hướng tích cực. Bước sang giai đoạn mới, mục tiêu xây dựng NTM nâng cao và NTM kiểu mẫu đặt ra những yêu cầu cao hơn, toàn diện hơn, hướng tới xây dựng nông thôn hiện đại, văn minh, sinh thái, có khả năng thích ứng cao trước rủi ro thiên tai, dịch bệnh và biến đổi khí hậu; nông nghiệp phát triển theo hướng sinh thái, ứng dụng công nghệ cao; nông dân trở thành chủ thể có tri thức, kỹ năng số, tư duy thị trường và năng lực khởi nghiệp.

Người dân Thái Nguyên đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, phát triển sản xuất gắn với kinh tế số nông nghiệp
Với vị thế là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hóa của vùng trung du và miền núi phía Bắc, tỉnh Thái Nguyên xác định ứng dụng KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một trong những khâu đột phá quan trọng nhằm nâng cao chất lượng tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông nghiệp bền vững, thúc đẩy sản xuất hàng hóa quy mô lớn, nâng cao giá trị gia tăng của sản phẩm, đồng thời tạo nền tảng vững chắc cho xây dựng NTM nâng cao và NTM kiểu mẫu. Đây không chỉ là giải pháp mang tính kỹ thuật mà còn là phương thức tổ chức phát triển hiện đại, góp phần xây dựng nông thôn phát triển toàn diện, lan tỏa trên các lĩnh vực văn hóa, xã hội, môi trường, tăng cường chất lượng quản trị cơ sở và sức cạnh tranh của nền kinh tế địa phương.
Đến hết năm 2025, trước khi chuyển sang giai đoạn thực hiện Bộ tiêu chí quốc gia về NTM giai đoạn 2026–2030 theo Quyết định số 51/2025/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ, tỉnh Thái Nguyên cơ bản hoàn thành các mục tiêu của Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM giai đoạn 2021 - 2025. Toàn tỉnh có 144 xã đạt chuẩn NTM; 54 xã đạt chuẩn NTM nâng cao; 12 xã đạt chuẩn NTM kiểu mẫu; 8 đơn vị cấp huyện hoàn thành nhiệm vụ/đạt chuẩn NTM (gồm 4 thành phố và 4 huyện). Đặc biệt, có 2 huyện: Phú Bình và Đại Từ là những địa phương đầu tiên của khu vực trung du và miền núi phía Bắc đạt chuẩn NTM nâng cao. Những kết quả đạt được có sự đóng góp trực tiếp, ngày càng rõ nét của KH&CN, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của hạ tầng bưu chính, viễn thông trên địa bàn tỉnh.
Khoa học và công nghệ - động lực nâng cao chất lượng xây dựng nông thôn mới
Năm 2025, hoạt động KH&CN của tỉnh tiếp tục có bước phát triển toàn diện, khẳng định vai trò là động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước. Tỉnh tập trung chỉ đạo hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách về KH&CN; ban hành, điều chỉnh các quy định quản lý nhiệm vụ KH&CN cấp tỉnh sử dụng ngân sách nhà nước theo hướng tăng cường phân cấp, ủy quyền, gắn với cải cách thủ tục hành chính, qua đó tạo hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch, khuyến khích các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp tham gia nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao tiến bộ kỹ thuật.

Đại diện Phòng Quản lý khoa học - Sở KH&CN kiểm tra mô hình trình diễn sản xuất giống lúa ĐT120
Công tác quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm vụ KH&CN được tăng cường theo hướng chặt chẽ, thực chất và hiệu quả. Năm 2025, tỉnh quản lý trên 130 nhiệm vụ KH&CN các cấp; nghiệm thu 34 nhiệm vụ, vượt kế hoạch đề ra; tỷ lệ kết quả nghiên cứu được ứng dụng vào thực tiễn sau nghiệm thu đạt trên 60%. Nhiều kết quả nghiên cứu đã nhanh chóng được chuyển giao vào sản xuất và đời sống, góp phần giải quyết những “nút thắt” về giống, quy trình canh tác, bảo vệ môi trường, phòng, chống dịch bệnh ở khu vực nông thôn.
Cùng với việc đổi mới cơ chế quản lý và nâng cao hiệu quả triển khai các nhiệm vụ KH&CN, tiềm lực KH&CN của tỉnh tiếp tục được củng cố, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao. Đến hết năm 2025, số người làm công tác nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đổi mới sáng tạo trên địa bàn tỉnh đạt 10,3 người/1 vạn dân; số bài báo khoa học thuộc hệ thống Scopus/ISI có địa chỉ tác giả tại tỉnh đạt 457 bài; nhiều công trình đạt giải thưởng KH&CN cấp quốc gia và khu vực, góp phần khẳng định vị thế của Thái Nguyên là trung tâm nghiên cứu, đào tạo và chuyển giao KH&CN của vùng trung du và miền núi phía Bắc.
Trên nền tảng tiềm lực khoa học và công nghệ (KH&CN) ngày càng được tăng cường, hoạt động KH&CN của tỉnh tập trung vào các lĩnh vực có tác động lan tỏa lớn đến khu vực nông thôn, như: nghiên cứu, chọn tạo giống cây trồng, vật nuôi chất lượng cao; xây dựng quy trình canh tác an toàn, nông nghiệp công nghệ cao; triển khai các mô hình xử lý rác thải, nước thải sinh hoạt, sử dụng chế phẩm sinh học trong sản xuất và chăn nuôi; nghiên cứu khoa học xã hội và nhân văn nhằm cung cấp luận cứ khoa học cho việc hoàn thiện cơ chế, chính sách an sinh xã hội, bảo tồn và phát huy giá trị văn hóa – lịch sử, phát triển nguồn nhân lực, xây dựng đời sống văn hóa ở nông thôn. Qua đó, KH&CN từng bước đi vào “mạch máu” của Chương trình NTM, chuyển trọng tâm từ “đạt chuẩn hình thức” sang “nâng cao chất lượng và chiều sâu” của các tiêu chí.
Đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp và chuyển giao công nghệ - đòn bẩy phát triển kinh tế nông thôn
Trên cơ sở các cơ chế, chính sách về khoa học và công nghệ từng bước được hoàn thiện, tỉnh xác định phát triển hệ sinh thái đổi mới sáng tạo, khởi nghiệp là đòn bẩy quan trọng thúc đẩy kinh tế nông thôn. Năm 2025, Thái Nguyên triển khai 71 mô hình KH&CN và đổi mới sáng tạo trên nhiều ngành, lĩnh vực và địa bàn; trong đó, các mô hình ứng dụng công nghệ số vào quản lý sản xuất, chế biến, tiêu thụ sản phẩm và xây dựng thương hiệu đã góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, gia tăng giá trị cho các sản phẩm chủ lực và sản phẩm OCOP.
Từ đó, hoạt động khởi nghiệp sáng tạo gắn với nông nghiệp và nông thôn diễn ra sôi động; hằng năm hình thành trên 50 dự án, ý tưởng khởi nghiệp, trong đó phần lớn tập trung vào nông nghiệp công nghệ cao, chế biến nông sản, du lịch nông thôn, khai thác giá trị bản địa. Nhiều dự án được tư vấn hoàn thiện sản phẩm, mô hình kinh doanh, ứng dụng tiến bộ KH&CN gắn với chuyển đổi số, qua đó giúp giá trị sản phẩm tăng từ 10 - 30% so với phương thức sản xuất truyền thống, tạo việc làm ổn định cho hơn 1.000 lao động khu vực nông thôn.
Đóng vai trò cầu nối giữa nghiên cứu và thực tiễn, Trung tâm Phát triển KH&CN, Đổi mới sáng tạo tỉnh đã triển khai nhiều mô hình thiết thực như sản xuất giống nấm, nuôi trồng nấm ăn, nấm dược liệu với quy mô 10.000 – 15.000 bịch/mô hình; cung cấp khoảng 3.000 kg giống nấm mỗi năm; ứng dụng công nghệ nuôi cấy mô in-vitro trong bảo tồn nguồn gen thực vật quý, nhân giống cây trồng chất lượng cao; sử dụng chế phẩm sinh học trong trồng chè, chăn nuôi và xử lý rơm rạ làm phân hữu cơ; áp dụng kỹ thuật thụ tinh nhân tạo trong chăn nuôi trâu, bò; xây dựng các mô hình chăn nuôi lợn bản địa, lợn thảo dược; tổ chức từ 12–15 lớp tập huấn/năm cho nông dân về trồng trọt, chăn nuôi và xử lý môi trường nông thôn; đồng thời triển khai nhiệm vụ bảo vệ, phát triển đất lúa với quy mô 50–100 ha/năm. Những mô hình này đã góp phần đa dạng hóa sinh kế, tăng thu nhập, cải thiện môi trường sống và củng cố nền tảng phát triển NTM theo hướng bền vững.
Chuyển đổi số - trụ cột mới trong xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu
Triển khai các chủ trương của Đảng, Nhà nước về chuyển đổi số quốc gia, tỉnh Thái Nguyên xác định chuyển đổi số là trụ cột mới trong xây dựng NTM, hướng tới hình thành nông thôn thông minh, chính quyền số cơ sở hoạt động hiệu lực, hiệu quả, lấy người dân làm trung tâm của quá trình chuyển đổi số.
Từ định hướng đó, chuyển đổi số được triển khai đồng bộ từ tỉnh đến cơ sở. Đến nay, 100% xã, phường trên địa bàn tỉnh đã triển khai sử dụng các hệ thống thông tin phục vụ chỉ đạo, điều hành; 100% văn bản được quản lý, trao đổi trên môi trường điện tử và ký số; 100% cán bộ, công chức được cấp thư điện tử công vụ và chứng thư số chuyên dùng. Tất cả các xã, phường đều xây dựng, vận hành trang thông tin điện tử, bảo đảm công khai, minh bạch thông tin theo quy định. Hệ thống hội nghị truyền hình trực tuyến được triển khai đồng bộ đến cấp xã, góp phần nâng cao hiệu quả chỉ đạo, điều hành, tiết kiệm thời gian, chi phí và tăng tính kịp thời trong xử lý công việc.
Tổ Công nghệ số cộng đồng tại các thôn, xóm, tổ dân phố phát huy vai trò “cánh tay nối dài” của chính quyền trong lan tỏa kỹ năng số đến người dân. Năm 2025, trên 2.000 thành viên Tổ Công nghệ số cộng đồng được tập huấn, cập nhật kiến thức, trực tiếp hướng dẫn người dân sử dụng dịch vụ công trực tuyến, các nền tảng số thiết yếu. Qua đó, chuyển đổi số không chỉ thay đổi phương thức quản lý, điều hành mà còn từng bước tái định hình phương thức sản xuất và đời sống ở nông thôn. Các giải pháp số trong sản xuất, truy xuất nguồn gốc, tiêu thụ nông sản góp phần nâng cao chất lượng, gia tăng giá trị, mở rộng thị trường cho nông sản địa phương; các ứng dụng như dịch vụ công trực tuyến, VNeID, sổ sức khỏe điện tử, nền tảng số trong y tế, giáo dục, an sinh xã hội giúp người dân tiếp cận dịch vụ công thuận tiện, minh bạch, từng bước hình thành thói quen giao dịch trên môi trường số.
Những kết quả đạt được tạo nền tảng quan trọng để tỉnh triển khai xây dựng “nông thôn số - nông dân số - sản phẩm số”, gắn kết chặt chẽ giữa chương trình chuyển đổi số với Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng NTM, nhất là trong giai đoạn thực hiện Bộ tiêu chí NTM giai đoạn 2026 - 2030.
Phát triển bưu chính, viễn thông - hạ tầng thiết yếu cho chuyển đổi số và xây dựng nông thôn mới kiểu mẫu
Hoạt động bưu chính tiếp tục phát huy vai trò là hạ tầng thông tin quan trọng. Trên địa bàn tỉnh hiện có 26 doanh nghiệp cung ứng dịch vụ bưu chính với gần 490 điểm phục vụ; bán kính phục vụ bình quân khoảng 2,5 km/1 điểm, bảo đảm mỗi xã đều có ít nhất 01 điểm phục vụ; 100% bưu cục giao dịch trung tâm tỉnh phục vụ tối thiểu 8 giờ/ngày làm việc, các điểm phục vụ còn lại phục vụ tối thiểu 4 giờ/ngày. Mạng lưới rộng khắp, hoạt động ổn định, dịch vụ bưu chính đã được cung cấp đến 100% người dân ở các xã, phường; bình quân khoảng 3.500 người/1 điểm phục vụ. Năm 2025, sản lượng dịch vụ bưu chính đạt khoảng 29 triệu thư, kiện, hàng hóa được khai thác đi, doanh thu dịch vụ đạt 530 tỷ đồng, tăng khoảng 10% so với năm 2024.
Cùng với đó, ngành bưu chính tích cực tham gia cải cách hành chính và phục vụ người dân, doanh nghiệp; trong thời điểm sắp xếp đơn vị hành chính, triển khai mô hình chính quyền hai cấp, các doanh nghiệp bưu chính đã kịp thời bố trí nhân sự hỗ trợ UBND cấp xã tiếp nhận, trả kết quả giải quyết thủ tục hành chính (TTHC) qua dịch vụ bưu chính công ích, góp phần giảm áp lực cho bộ phận “một cửa” cơ sở, tiết kiệm thời gian, chi phí đi lại cho người dân, đặc biệt tại các xã vùng sâu, vùng xa.
Về viễn thông, công tác quản lý nhà nước được tăng cường thường xuyên, quyết liệt, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp phát triển cơ sở hạ tầng phù hợp với quy hoạch, nâng cao chất lượng mạng lưới, chất lượng dịch vụ. Đến nay, tỷ lệ phủ sóng di động trên địa bàn tỉnh đạt khoảng 99,7% dân số; toàn tỉnh có 3.310 vị trí phát sóng (nhà trạm, cột ăng-ten) với tổng số 6.260 trạm BTS (2G, 3G, 4G, 5G). Số thuê bao điện thoại di động đạt khoảng 1,77 triệu (tương đương 104 thuê bao/100 dân), trong đó có 1,64 triệu thuê bao truy cập Internet băng rộng di động (chiếm 93% tổng số thuê bao). Công tác phát triển hạ tầng mạng 5G đạt nhiều kết quả nổi bật: từ 100 trạm phát sóng 5G vào đầu năm 2025 đã tăng lên 586 trạm vào cuối năm, phủ khoảng 68% dân số, bảo đảm khả năng truy cập Internet tốc độ cao trên diện rộng, phục vụ phát triển kinh tế số, xã hội số và chính quyền số.
Hạ tầng băng rộng cáp quang phủ 100% đơn vị hành chính cấp xã, phủ đến khoảng 99,5% dân số; 95% dân số có khả năng truy nhập Internet băng rộng cố định cáp quang với tốc độ đến Gbps. Toàn tỉnh có khoảng 363.000 thuê bao Internet cáp quang, trong đó 345.000 thuê bao hộ gia đình; tỷ lệ hộ gia đình có truy nhập Internet băng rộng cáp quang đạt 81%. Công tác quản lý tần số vô tuyến điện được thực hiện đồng bộ, 100% vụ can nhiễu được xử lý kịp thời, đúng hạn, bảo đảm thông tin thông suốt phục vụ phát triển kinh tế - xã hội và quốc phòng - an ninh.
Sự phát triển đồng bộ, hiện đại của hạ tầng bưu chính, viễn thông đã, đang tạo nền tảng hạ tầng số vững chắc cho tỉnh; là điều kiện tiên quyết để đẩy mạnh chuyển đổi số, phát triển chính quyền số, kinh tế số, xã hội số, nhất là ở khu vực nông thôn; góp phần hoàn thành và nâng cao chất lượng các tiêu chí NTM, NTM nâng cao, NTM kiểu mẫu trong giai đoạn mới.
Phát triển tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc sản, sản phẩm OCOP - động lực nội sinh của kinh tế nông thôn
Trong bối cảnh kinh tế tri thức và hội nhập sâu rộng, khi cạnh tranh ngày càng dựa vào chất lượng, nguồn gốc, uy tín và khả năng truy xuất, nông thôn không thể phát triển bền vững nếu chỉ dừng ở mở rộng quy mô sản xuất. Thái Nguyên sớm nhận diện “nút thắt” của nhiều sản phẩm nông nghiệp, làng nghề là giá trị gia tăng thấp, liên kết chuỗi lỏng lẻo, xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ diễn biến phức tạp; từ đó kiên trì quan điểm: phát triển tài sản trí tuệ không phải chỉ là “làm hồ sơ xin văn bằng”, mà là một chương trình phát triển kinh tế - xã hội, gắn với tái cơ cấu nông nghiệp, Chương trình OCOP và mục tiêu NTM.
Từ định hướng này, công tác xây dựng và khai thác tài sản trí tuệ cho sản phẩm nông nghiệp, đặc sản địa phương được triển khai bài bản và có chiều sâu. Đến nay, Thái Nguyên có 38 văn bằng bảo hộ sở hữu trí tuệ cho các đặc sản và sản phẩm thế mạnh (05 chỉ dẫn địa lý, 04 nhãn hiệu chứng nhận, 29 nhãn hiệu tập thể) cùng 598 sản phẩm OCOP. Chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” cho sản phẩm chè được bảo hộ từ năm 2007, hiện đã chuyển sang giai đoạn “khai thác quyền” thông qua tăng cường quản lý sử dụng, chuẩn hóa quy trình, ứng dụng hệ thống truy xuất nguồn gốc gắn với nhận diện thương hiệu. Đặc biệt, nhãn hiệu tập thể “Chè Thái Nguyên” đã được bảo hộ tại nhiều thị trường lớn; chỉ dẫn địa lý “Tân Cương” được bảo hộ tại Liên minh châu Âu, qua đó tạo công cụ pháp lý quan trọng để mở rộng thị trường, nâng cao giá trị xuất khẩu, hạn chế rủi ro chiếm đoạt thương hiệu.
Trên nền tảng kết quả đã đạt được và yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới, tỉnh xác định các nhóm nhiệm vụ trọng tâm: hoàn thiện thể chế quản trị tài sản trí tuệ theo chuỗi giá trị, lấy cộng đồng làm trung tâm; chuẩn hóa chất lượng gắn với tiêu chuẩn - đo lường - chất lượng - an toàn thực phẩm; đẩy mạnh chuyển đổi số tài sản trí tuệ và chuỗi cung ứng nông thôn; phát triển thị trường dựa trên tài sản trí tuệ gắn với du lịch nông nghiệp, du lịch trải nghiệm; nâng cao hiệu lực thực thi quyền, bảo vệ người tiêu dùng. Phát triển tài sản trí tuệ cho sản phẩm đặc sản, sản phẩm chủ lực và sản phẩm OCOP là một trong những giải pháp quan trọng nhằm nâng cao chất lượng, củng cố niềm tin thị trường, gia tăng giá trị; từ đó thúc đẩy tăng thu nhập, phát triển nông thôn bền vững, nhất là đối với tỉnh “danh trà” Thái Nguyên.
Với những kết quả và kinh nghiệm đã tích lũy, cùng định hướng và giải pháp nêu trên, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân các dân tộc tỉnh Thái Nguyên quyết tâm tiếp tục phát huy truyền thống “thủ phủ công nghiệp - danh trà” của cả nước; đưa KH&CN, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số gắn với phát triển hạ tầng bưu chính, viễn thông hiện đại trở thành động lực nội sinh quan trọng, góp phần xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu theo hướng hiện đại, bền vững, giàu bản sắc; hiện thực hóa mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh” trên quê hương cách mạng./.