Thái Nguyên: Đẩy mạnh chuyển đổi số, hướng tới mục tiêu trở thành tỉnh phát triển số hiện đại, an toàn
Thái Nguyên xác định chuyển đổi số không chỉ là ứng dụng công nghệ vào hoạt động quản lý, sản xuất và đời sống, mà còn là động lực quan trọng để đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, chất lượng và năng lực cạnh tranh, tạo thêm không gian phát triển trong giai đoạn mới. Quá trình này đặt ra yêu cầu chuyển đổi đồng bộ từ phương thức quản trị, khai thác dữ liệu đến tổ chức sản xuất, cung cấp dịch vụ và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, hướng tới xây dựng một nền kinh tế và xã hội vận hành ngày càng hiệu quả trên nền tảng số.
Trên cơ sở đó, tỉnh tập trung triển khai các nhiệm vụ về chính quyền số, kinh tế số và xã hội số, từng bước hình thành hệ sinh thái số đồng bộ, lấy dữ liệu, hạ tầng và con người làm những yếu tố nền tảng. Đến năm 2030, Thái Nguyên đề ra các chỉ tiêu cụ thể về số hóa thủ tục hành chính, kết nối và khai thác dữ liệu, phát triển kinh tế số, hạ tầng số và nhân lực số; qua đó tạo nền tảng vững chắc để đến năm 2045 trở thành tỉnh phát triển số hiện đại, an toàn.
Hội nghị triển khai nhiệm vụ cải cách hành chính những tháng cuối năm 2026; tổng kết Chiến dịch “100 ngày số hóa, làm sạch, chuẩn hóa dữ liệu”; sơ kết 180 ngày thực hiện công tác đăng ký đất đai, lập hồ sơ địa chính và hoàn thiện cơ sở dữ liệu đất đai trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên (ngày 12/8/2026)
Dữ liệu là nền tảng của chuyển đổi số
Trong tiến trình chuyển đổi số, dữ liệu ngày càng trở thành nguồn lực quan trọng phục vụ quản trị, điều hành và phát triển kinh tế - xã hội. Vì vậy, cùng với số hóa hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính, Thái Nguyên đang tập trung tăng cường kết nối các hệ thống thông tin, từng bước hình thành phương thức quản lý dựa trên dữ liệu.
Theo định hướng đến năm 2030, 100% hồ sơ, kết quả giải quyết thủ tục hành chính được số hóa; 100% hệ thống thông tin được kết nối, chia sẻ dữ liệu. Các cơ sở dữ liệu dùng chung được chuẩn hóa, kết nối theo phân quyền, bảo đảm khả năng khai thác và sẵn sàng phục vụ các ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI).
Đây là bước chuyển quan trọng từ việc “có dữ liệu” sang “dùng dữ liệu” để nâng cao hiệu quả quản lý. Việc phát triển Trung tâm Điều hành thông minh (IOC) cũng được định hướng tăng cường ứng dụng AI trong phân tích dữ liệu, dự báo, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ ra quyết định. Khi dữ liệu được kết nối, việc tổng hợp thông tin, xử lý công việc và phục vụ công tác chỉ đạo, điều hành sẽ từng bước giảm sự phụ thuộc vào phương thức thủ công, đồng thời hạn chế tình trạng yêu cầu người dân, doanh nghiệp cung cấp lại những thông tin đã có.
Muốn dữ liệu thực sự trở thành nguồn lực cho chuyển đổi số, yêu cầu đặt ra là phải bảo đảm tính chính xác, đầy đủ, được cập nhật thường xuyên và có khả năng liên thông, theo nguyên tắc “đúng, đủ, sạch, sống, thống nhất, dùng chung, an toàn và hiệu quả”. Các cơ sở dữ liệu về dân cư, đất đai, doanh nghiệp, tài chính, bảo hiểm, y tế, giáo dục, lao động, an sinh xã hội, cán bộ, giao thông, tài nguyên và môi trường cần tiếp tục được ưu tiên hoàn thiện, kết nối và khai thác hiệu quả.

Phát triển Trung tâm IOC tỉnh theo hướng tăng cường ứng dụng AI trong phân tích dữ liệu, dự báo, cảnh báo, giám sát và hỗ trợ ra quyết định
Đưa kinh tế số trở thành động lực tăng trưởng
Cùng với xây dựng chính quyền số, phát triển kinh tế số là một trong những trọng tâm của quá trình chuyển đổi số, góp phần mở rộng phương thức kinh doanh, nâng cao năng suất và tạo ra những giá trị mới. Đến năm 2030, kinh tế số phấn đấu đóng góp tối thiểu 35% GRDP; hỗ trợ ít nhất 1.300 doanh nghiệp nhỏ và vừa thực hiện chuyển đổi số.
Trong lĩnh vực thương mại, doanh thu thương mại điện tử phấn đấu chiếm khoảng 15%-17% tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng. Trên 40% doanh nghiệp nhỏ và vừa được tiếp cận, sử dụng các nền tảng “mô hình như một dịch vụ”, tác nhân AI hoặc giải pháp AI dùng chung; 45% doanh nghiệp nhỏ và vừa hoạt động trong lĩnh vực thương mại tham gia các sàn thương mại điện tử lớn trong và ngoài nước.
Để hiện thực hóa các mục tiêu trên, ứng dụng công nghệ số tại doanh nghiệp cần đi vào những khâu có tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động, từ quản trị, sản xuất, quản lý nguyên vật liệu, nhân sự, logistics đến bán hàng, chăm sóc khách hàng, thanh toán và giao dịch điện tử. Tuy nhiên, chi phí đầu tư và hạn chế về nhân lực công nghệ vẫn là những khó khăn đối với nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa. Chính sách hỗ trợ vì vậy cần xuất phát từ nhu cầu thực tế, giúp doanh nghiệp lựa chọn giải pháp phù hợp với quy mô, lĩnh vực hoạt động và khả năng tài chính; đồng thời khuyến khích doanh nghiệp chủ động đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực quản trị và khai thác hiệu quả các nền tảng số.
Công ty Cổ phần đầu tư và Thương mại TNG đầu tư thiết bị công nghệ hiện đại và hệ thống máy lập trình tự động, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy chuyển đổi số trong sản xuất và tăng năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Với thế mạnh về công nghiệp, công nghệ cao, hệ thống doanh nghiệp cùng mạng lưới các cơ sở đào tạo, Thái Nguyên có nhiều điều kiện để đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số trong sản xuất, thương mại và dịch vụ. Phát huy những lợi thế này sẽ góp phần nâng cao năng suất, sức cạnh tranh của doanh nghiệp và từng bước gia tăng tỷ trọng kinh tế số trong GRDP.
Phát triển hạ tầng số, thu hẹp khoảng cách số
Hạ tầng số là điều kiện thiết yếu để các hoạt động trên môi trường số được triển khai đồng bộ, thông suốt và an toàn. Giai đoạn đến năm 2030, mạng băng rộng cáp quang được định hướng phủ tới 100% hộ gia đình; đồng thời tiếp tục phát triển 5G, Internet vạn vật (IoT), điện toán đám mây, điện toán biên, trung tâm dữ liệu và các nền tảng kết nối số. Cùng với mở rộng phạm vi kết nối, hạ tầng số phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, tính ổn định, an toàn và khả năng mở rộng. Khi hoạt động quản lý, sản xuất, kinh doanh và đời sống ngày càng phụ thuộc vào môi trường số, nhu cầu về đường truyền, lưu trữ và xử lý dữ liệu cũng không ngừng gia tăng. Do đó, đầu tư hạ tầng số phải có tầm nhìn dài hạn, bảo đảm khả năng đáp ứng sự phát triển nhanh của công nghệ và nhu cầu sử dụng trong tương lai.
Thực tế cho thấy điều kiện hạ tầng giữa khu vực đô thị, nông thôn, miền núi và vùng đồng bào dân tộc thiểu số vẫn còn khác biệt. Chênh lệch về hạ tầng và kỹ năng số có thể ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng tiếp cận các dịch vụ số, từ đó tạo ra khoảng cách trong thụ hưởng thành quả của chuyển đổi số. Vì vậy, bên cạnh việc đầu tư tại các khu vực có tốc độ phát triển kinh tế cao, tỉnh cần quan tâm mở rộng kết nối đến các địa bàn còn khó khan, từng bước thu hẹp khoảng cách số. Hạ tầng số cũng cần được phát triển phù hợp với nhu cầu thực tế tại các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu đô thị và các lĩnh vực dịch vụ, tạo nền tảng cho phát triển kinh tế - xã hội trong môi trường số.
Nâng cao chất lượng nhân lực số
Nhân lực là yếu tố trực tiếp, có tính quyết định đối với hiệu quả triển khai chuyển đổi số. Đến năm 2030, tỉnh đặt mục tiêu 100% cán bộ lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức được đào tạo, cập nhật kiến thức, kỹ năng số; 100% cán bộ, công chức, viên chức có tài khoản và được đào tạo sử dụng nền tảng trợ lý AI công vụ. Tỉnh cũng phấn đấu có tối thiểu 200.000 lượt người trong độ tuổi lao động được đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng số cơ bản.
Để công tác đào tạo đáp ứng yêu cầu thực tiễn, nội dung cần gắn với vị trí việc làm và từng nhóm đối tượng. Đối với đội ngũ cán bộ, trọng tâm là nâng cao khả năng sử dụng các nền tảng số, khai thác dữ liệu, ứng dụng AI, bảo đảm an toàn thông tin và xử lý công việc trên môi trường điện tử. Qua đó, từng bước hình thành đội ngũ cán bộ có tư duy số, kỹ năng số và khả năng thích ứng với phương thức quản trị mới. Đối với người dân, nội dung đào tạo cần hướng vào những kỹ năng có thể áp dụng trực tiếp trong công việc và đời sống như giao dịch điện tử, thanh toán số, sử dụng dịch vụ công trực tuyến và các dịch vụ thiết yếu trên môi trường mạng. Chương trình “Bình dân học vụ số” cần tiếp tục được triển khai theo hướng thiết thực, phù hợp; trong đó chú trọng người dân ở khu vực nông thôn, miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số và những người còn hạn chế về kỹ năng sử dụng công nghệ.
Tập trung nguồn lực, bảo đảm chuyển đổi số thực chất
Chuyển đổi số được triển khai trên nhiều ngành, lĩnh vực, đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, đơn vị và sự tham gia của người dân, doanh nghiệp. Việc xây dựng các hệ thống riêng lẻ, thiếu khả năng kết nối hoặc đầu tư trùng lặp sẽ làm tăng chi phí và hạn chế hiệu quả khai thác dữ liệu. Vì vậy, tỉnh cần tiếp tục ưu tiên các nền tảng dùng chung, cơ sở dữ liệu nền tảng, hạ tầng số và các giải pháp bảo đảm an toàn thông tin.
Cùng với nguồn lực từ ngân sách nhà nước, việc huy động sự tham gia của doanh nghiệp là giải pháp quan trọng để mở rộng đầu tư cho hạ tầng, nền tảng và dịch vụ số. Các mô hình hợp tác công - tư phù hợp với từng lĩnh vực có thể góp phần giảm áp lực đầu tư từ ngân sách, đồng thời tạo điều kiện để tỉnh tiếp cận nhanh hơn với các giải pháp công nghệ mới.
Hiệu quả chuyển đổi số cần được đánh giá bằng kết quả cụ thể. Đối với cơ quan nhà nước, đó là chất lượng phục vụ, hiệu quả giải quyết công việc và mức độ sử dụng dịch vụ công; đối với doanh nghiệp là năng suất, chi phí, doanh thu và khả năng mở rộng thị trường; đối với người dân là sự thuận tiện, minh bạch và khả năng tiếp cận các dịch vụ thiết yếu.
Thực hiện các mục tiêu về chính quyền số, kinh tế số và xã hội số đến năm 2030 đòi hỏi Thái Nguyên cần tiếp tục tập trung nguồn lực vào những nhiệm vụ có tác động trực tiếp, khả năng triển khai thực chất và tạo ra giá trị lâu dài. Trong đó, cần bảo đảm các nền tảng đã đầu tư được khai thác hiệu quả, dữ liệu được kết nối, chia sẻ và sử dụng đúng mục đích; doanh nghiệp nâng cao mức độ ứng dụng công nghệ; người dân được trang bị đầy đủ kỹ năng để tham gia môi trường số. Với cách tiếp cận lấy dữ liệu làm nền tảng, hạ tầng làm điều kiện, nhân lực làm yếu tố quyết định và hiệu quả thực chất làm thước đo, chuyển đổi số sẽ không chỉ góp phần nâng cao chất lượng quản lý, điều hành mà còn mở rộng không gian phát triển cho tỉnh. Kết quả thực hiện các mục tiêu đến năm 2030 sẽ là nền tảng quan trọng để Thái Nguyên tiếp tục nâng cao năng lực số, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, gia tăng năng suất và sức cạnh tranh, từng bước hiện thực hóa mục tiêu đến năm 2045 trở thành tỉnh phát triển số hiện đại, an toàn.